Đăng bởi: trangque | Tháng Bảy 30, 2009

Bạn đọc viết về thơ Minh nguyệt

Có nhà thơ đã nói văn chương là tiếng chim gọi đàn, tiếng sáo gọi đàn. Dấu yêu ơi đã rung lên nốt nhạc nào trong lòng bè bạn? Tôi muốn lưu trữ trong tập thơ những lưu bút của bạn bè để mai này cả bản hoà tấu yêu thương sẽ còn ngân đọng mãi. Xin cảm ơn bạn bè, cảm ơn cuộc đời này đã cho tôi các bạn và những sẻ chia.

Đêm thu đẹp quá Nguyệt ơi!

Đọc thơ em, thấy bời bời ruột gan

Muốn làm ngọn gió lang thang

Trên cao mà ngắm điệu đàng giấc Thơ

Đỗ Xuân Thu – HVHNT Vĩnh Phú

* * *

Khuya thật khuya, lặng lẽ, nhẹ như hơi thở. Tâm hồn nữ sĩ có độ nhạy cảm tinh tế mới nghe được tiếng đêm Thu đi! Sự ồn ả, xô bồ tan biến, chỉ còn lại bước chân của đêm Thu. Trăng Quê hãy “tắt đèn” đi, bám theo xem bước đêm ngắn dài và đêm Thu đi về đâu?

Bùi Tự Lực – Đà Nẵng

* * *

Tôi lại bắt gặp người con gái đang yêu và được yêu. Ngày xưa Nguyễn Trãi đã thắp đuốc ngắm đêm vì sợ thời gian hết. Bây giờ Trăng lại chạy vào đêm mang cả tình yêu nhuốm vào đêm bảng lảng. Em đang khoe với cả đất trời tình yêu của mình và riêng mình. Vì nếu không có tình yêu đẹp chắc chắn Nguyệt không thể thì thầm ngân lên: “Ôi trời, đêm – thật đêm” Tôi còn nghe vang lên cái dư âm của nỗi lòng: Ôi trời tình thật tình, yêu thật yêu. Hạnh phúc trẻ trung khi đang yêu, Trăng nhỉ!

Đinh Đình Chiến – Bình Thuận

* * *

Sao lại có lời thì thầm ngọt ngào như thế:

Ôi trời

đêm

thật Đêm…

Khi hạnh phúc người ta không ngủ được vì mọi giác quan cứ căng ra đón nhận niềm hạnh phúc dâng tràn. Trăng đang yêu và được yêu và ngập chìm trong hạnh phúc.

Võ Kim Ngân – Đà Nẵng

Ban Mai 

Người đàn bà lạc vào mê trần hệ lụy

Khát vọng của Ê-va

Chạy rông đêm tìm thấy mình đích thực

Hỡi nhân gian, hãy tụng ca sự vinh hãnh

của cội nguồn.

Bài thơ Ban mai của Nguyệt là một bài thơ hay, có một sự bứt phá hết sức táo bạo. Anh dùng từ “Chạy rông” là để hợp với ngữ cảnh “Con mèo cái động tình, tiếng dế râm ran, trăng rơi rơi kẽ lá” đó thôi. Anh hoàn toàn không cảm nhận tục hóa bài thơ. Chúc em mạnh dạn đi tiếp sự thử nghiệm của mình.

Trần Trình Lãm – Đà Nẵng

* * *

Bài thơ Ban mai của em hay, vì có nhiều kinh nghiệm. Vậy có mấy câu sau:

Bài thơ như một lá bùa

Minh Nguyệt vừa hái ở chùa Chân Tiên

Đọc xong mất mấy đêm liền

Hai mắt thì thức, môi mềm… nuốt khan!

Trần Quang Đạo –
TBT báo Thiếu niên Nhi đồng

Gửi một trời yêu

Nếu ngày mai lối cũ đã xanh rêu

Bốn mùa lá và hoa lặng yên nằm trước ngõ

Em hãy nhớ, nhạc lòng không ngừng thở

Bản tăng gô thuở ấy hóa thiên thần.

Bài thơ này thật sâu lắng. Bỏ qua những câu chữ, mô típ quen thuộc, cả bài thơ là một tiếng thở dài, gieo vào lòng người đọc hoài niệm về một tình yêu đẹp, mãi mãi đẹp, đẹp tự nó, cho dù ai trong hai nửa của nó có ngoảnh đi, phũ phàng phủi phất xua nó đi.

Hà Linh – Bộ Nông Nghiệp
và Phát triển Nông thôn

Trăng ơi! 

“Một ngày yêu. Một ngày đau

Vết thương rồi sẽ hằn sâu một đời

Thôi đừng buồn nữa ta ơi!

Hãy quên cái-thuở-ta-người ngày xưa”

Có một thời chị đã ru mình như thế. Mong em sớm nguôi quên!

Phạm Dạ Thuỷ – Nha Trang

Bất ngờ Trăng…

Trăng lúc nào cũng làm KG thật bất ngờ.

Có lạ gì…

Thường ngày…

Như hơi thở…

Vẫn bất ngờ…

Ngột ngạt

Bởi vì yêu!

Yêu kiểu yêu của Trăng lắm!

Kim Giang – Phú Thọ

* * *

Nếu Trăng kiệt sức bên đường

Thì anh sẽ gọi cứu thương tới liền

Thưa rằng – Nguyệt muốn lên Tiên

Nhưng vì kiệt sức tại miền Nhân gian

Cây đâu? trút hết lá vàng

Người đâu? Chuẩn bị rước nàng về Đô

Tùng Bách -Nghệ An

* * *

Chỉ còn lại một trời nuối tiếc

Em hứa với mình thanh thản xa anh…

 

Ngước mắt, thấy màu tim tím

Hình như trăng vẽ trời yêu

Tô thêm tí râu, tí tóc

Úi giời ai nhìn chẳng yêu.

Đào Xuân Mai – Vũng Tàu

* * *

Một tình yêu không biết mệt mỏi, còn biết nói gì đây, Trăng? Thôi chúc trăng “chân cứng đá mềm”.

Tuyết Nga –Hà Nội

* * *

@Trăng Quê!

Đã hứa với mình là không đụng đến weblogs nữa, nhưng không sao làm nổi một việc gì cần đến đầu được, lại buồn tình đi ngóng thiên hạ. Tôi đã đọc bài GỬI MỘT TRỜI YÊU của Minh Nguyệt và thích câu:

Mùa thu reo chấm nắng vàng sớt lửa

Pha bột màu thương nhớ vẽ trời yêu!

Lê Huy Mậu – Chủ tịch Hội VHNT Vũng Tàu

Quán vắng

Lặng lẽ em về quán vắng

SAY!!!

lặng lẽ uống ngày xưa,

lặng lẽ

anh không về

để mình em

có thể

uống cả thời gian

dĩ vãng

đến say mèm !

Lâm Hải Phong – Hải Phòng

Thầm thì với biển đêm

Hình như biển thầm thì

Gọi vầng trăng cuối tháng

Những giai điệu lâm ly

 Trái tim buồn, lãng đãng

Nguyễn Đức Đát – Thái Bình

* * *

Em là vầng trăng sáng

lung linh giữa biển trời

trong đêm giữa biển khơi

gởi anh lời trìu mến…

… lời thì thầm dễ thương quá chị Minh Nguyệt ạ !

Hoàng Nguyên – Việt kiều Mỹ

* * *

Hình như gió nói với mây

Trăng Quê đã ghé qua đây thì thầm

Biển xanh đã nổi sóng ngầm

Mời trăng xuống tắm một lần rồi đi.

Đào Xuân Mai – Vũng Tàu

*  *  *

 Hôm nay Trăng đến rồi!

Ngày Vũng Tàu lộng gió

Hoa Vũng tàu chợt nở

Vũ điệu TRĂNG Hà Thành

Hôm nay Trăng đến rồi!

SÀI GÒN đêm thức đợi

đan kẽ lá TRĂNG RƠI!

trong thu bình yên lạ

Trăng rơi ! trăng… rơi… rơi…

Nhạc sỹ Đỗ Minh Thu –
TP. Hồ Chí Minh

Nói với Mặt trời

Trăng vẫn thế Trăng Quê

Người vẫn thế người quê

Câu thơ đằm nỗi nhớ

Nặng sâu một lời thề

Đồng xu em mong mỏi

Hạnh phúc hai bờ trông

Nụ hôn còn trong gió

Nâng niu ai giấc nồng.

Bài thơ tình hay đấy Minh Nguyệt ạ.

Phạm Thanh Khương –
Phó TBT báo Biên Phòng

Rượu đã rót rồi thì phải uống

Nói dối trọn bài thơ uống rượu

Lại vẫn thèm nói dối trời ơi

Giá trăng kia lại hóa thành rượu thật

Ai phơi khô bầu rượu hóa trăng trời?

Hì…hì

(anh Tạo biết Minh Nguyệt không biết uống rượu nên làm thơ về rượu là nói dối. Tuy nhiên cũng đã có lần Minh Nguyệt uống say rượu xa kê ở một nhà hàng Nhật Bản)

Nguyễn Trọng Tạo –
Nhà thơ, nhạc sỹ, hoạ sỹ vẽ bìa

Đừng yêu

Chị Minh Nguyệt ơi!

Có người bảo… xin đừng yêu

Là mong anh hãy… yêu nhiều em đi

Có người bảo… nhớ nhung chi

Là khi nỗi nhớ… lâm li ngút ngàn…

Vũ Thanh Hoa – Vũng Tàu

Gửi Minh Nguyệt

Trăng từng yêu cả bầu trời

giờ lại khuyên kẻ vào đời đừng yêu

Này Trăng, Trăng phải liệu điều…

Phương Hà – Báo Bảo vệ Pháp luật

Hôn

Chào em, anh trích một đoạn bài thơ anh tả về nụ hôn lên mọi chỗ:

Phan xi phăng yêu thương

Sóng hôn bờ dào dạt

Bỏng cháy đôi bờ môi

Tình yêu trào nước mắt.

Nguyễn Văn QuýThuyền trưởng 

 

Lưới tình

Thương Trăng vấp phải lưới tình

Ngẫu nhiên hay lại tự mình đóng đô?

Lâu rồi âm tín bặt vô

Quán cài then đóng câu thơ lạc vần?

Bùi Đức Hiền – ĐH Công nghiệp Điện Hà Nội

Huế và Anh

Chị làm tôi nhớ quê quá. Hôm qua một cơn lốc kèm mưa to vừa ập vào Huế. Cám ơn chị đã yêu Huế quê tôi như thế. Tôi sẽ mách cho các anh ở Huế chọn bài thơ này của chị vào những tuyển thơ về Huế tiếp theo. Cám ơn chị.

Văn Công Hùng – Thừa Thiên Huế

* * *

Nghệ An đổi được thành quê Huế

Cần các bao nhiêu cũng các liền

Chẳng phải bánh xèo hay cơm hến

Mà vì một bận đọc thơ em!

Vương Trọng – Hà Nội

* * *

anh về xa xẩn sớm mai

hôm qua mơ thấy tiếng ai gọi đò

quốc kêu đâu ở bụi bờ

hay nghe tiếng Nguyệt đọc thơ tặng mình

 

cảm ơn quê lúa Thái Bình

vầng Trăng soi giữa biển tình bao la

khuất đồi, khuất núi bao la

ngắm trăng ta lại ngợi ca một người

Chu Thanh Tùng – Huế

Vịnh quán Trăng Quê

…………………

Em sẽ vẫn là thơ

Tình yêu cùng ước mơ

Dịu dàng và đằm thắm

Còn hơn cả… ngày xưa!

Phan Chí Thắng – Hà Nội

* * *

Dịu dàng, đằm thắm là cái hồn bao trùm thơ Minh Nguyệt. Không gian luôn râm ran. Ngay cả những tâm sự đớn đau nhất vẫn phảng phất sự yên bình… Hình như tác giả cố tình né tránh bão giông, cái gọi là tận đáy… của cái đổ vỡ….

Thơ em đằm thắm nồng nàn và dịu ngọt, êm đềm, thơ trẻ có điều vẫn thiêu thiếu một chút gì chưa mạnh dạn chưa bật tung, có lẽ em cần một sự phá cách để tạo cho mình một phong thái riêng!

Hoàng Thị GiaoTP. Hồ Chí Minh 

 

Những lời bình trên đây chỉ là số ít trong hàng ngàn lưu bút của bạn bè. Minh Nguyệt làm thơ và cũng nhận được rất nhiều thơ tặng của bạn thơ. Từ khi biết làm thơ cũng là lúc Minh Nguyệt lăn vào những nỗi buồn. Nhiều lúc nản lòng muốn bỏ bút nhưng các bạn luôn bên cạnh, động viên, khuyến khích. Bạn đọc cũng mang lại cho Minh Nguyệt những niềm vui trong sáng tác thật nhiều. Đó cũng là lý do để Minh Nguyệt đặt tên tập thơ này là Dấu yêu ơi!

 

Minh Nguyệt cướp cha Ran từ tay Chúa 

 

(Đọc tập thơ “Vũ điệu của trăng” NXB Hội Nhà văn – 2007 của Vũ Thị Minh Nguyệt )

Tiến sỹ – VƯƠNG CƯỜNG –
Học viện Chính trị Quốc gia

Một lần, khi lướt blog, tôi chạm phải một câu thơ:

Có khoảng cách

Dài từ rơm

Đến lửa

(Khoảng cách)

Không biết câu thơ này có hay hay không, tôi đã phải rụt tay vì sợ chạm vào ngọn lửa ấy. Bỗng bắt gặp một khuôn mặt hiền hậu, có cặp mắt đa tình và nụ cười níu kéo. Giữa khuôn mặt, nụ cười, ánh mắt này có mối liên hệ với câu thơ có lửa ở trên. Phải gặp người phụ nữ này, trong đầu tôi bỗng vang lên ý nghĩ đó

Và rồi, tôi đã gặp chị trong đời thực và cả trong thơ. Vâng! vẫn khuôn mặt hiền hậu ấy, vẫn cặp mắt đa tình ấy, vẫn nét cười níu kéo ấy… trong đầu tôi lại vang lên câu hỏi, chị là ai?

Vóc dáng mảnh mai vũ nữ kia mà dám cả gan có ý nghĩ cướp cha Ran trên tay Chúa ư?

Dám lắm, chị có những tố chất mà qua thơ tôi đã nhìn thấy. Chị dịu dàng, nói như On-ga Béc-gon “dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi”. Dịu dàng ấy, ẩn sâu trong trái tim, có sự hợp lý từ trong ra ngoài ở chị

Trái tim em, dịu dàng ơi

Dường như đã đứng suốt đời – đợi anh

(Trái tim dịu dàng)

Không chỉ dịu dàng chị còn là người yếu mềm, đắm đuối. Nhờ thế dây đàn luôn luôn rung lên, ngân vang trong tâm hồn chị. Tôi có cảm giác Minh Nguyệt không phải đi trên mặt đất:

Người đàn bà

Yếu mềm

Và đắm đuối

Chỉ biết yêu

Bằng cả

Trái tim mình

(Viết tặng người tình của Boris Pastenak)

Không chỉ yếu mềm đắm đuối, chị còn mạnh mẽ. Hai phẩm chất ngược nhau, vô lý tồn tại trong chị. Chị nhìn đời với cặp mắt, trái tim nồng nàn chỉ dẫn. Chị khao khát “được như trái đất mặt trời chạm nhau”. Minh Nguyệt hay nhắc đến lửa:

Nồng nàn như miếng trầu

Đượm vôi và cau vỏ

Nồng nàn như ngọn lửa…

(Nồng nàn)

Vì trái tim luôn đập mạnh, chị không thể đủ kiên nhẫn chờ đợi giọng nói của người mình yêu qua đêm thứ Bảy. Chị đứng ngồi không yên, vào, ra trông ngóng. Thời gian cứ dịch chuyển vô tâm như trêu chị, chị phải thốt lên:

Tối thứ Bảy sao dài đến thế

Tiếng chuông reo, khiến tim nghẹt thở

Tôi có thể sẻ chia với chị người sở hữu trái tim đa tình mà không đa đoan ấy. Những bậc nam nhi vẫn tan vỡ khi chờ đợi:

Sáng ra đã gặp em rồi

Còn đêm nay nữa sao dài bằng năm

(Chế Lan Viên)

Xa em một phút nhớ rồi

Ngày mai phải sống một đời vắng em

(Thạch Quỳ)

Nếu cảm nhận thời gian là một dấu hiệu cho thấy tâm hồn thi sĩ thì Minh Nguyệt có dấu hiệu đó. Cả hai giới đều rối loạn con tim giống nhau trước sự chờ đợi, Minh Nguyệt phụ nữ, rối loạn hơn.

Vâng, chị rối loạn, rối loạn đến mức có khi chị “không biết mình là ai nữa”. Chị đã từng đi trong phố đêm như người mộng du, đi không biết đi đâu, đi về phía vô định, đi về phía không anh. Sự khao khát, sự dồn nén như thế, tất nhiên chị sẵn sàng đánh đổi tất cả, cả “cuộc đời nhung lụa” để “ngắm một lần lặng lẽ nụ cười anh”.

Những tố chất chị đã bộc lộ về phía mình. Nhưng cuộc đời đâu có chiều ai, nhất là thi nhân. Logic tất nhiên sẽ đến. Lỗi tại trái tim. Mong manh quá, mong manh thế làm sao chịu được sự phũ phàng của cuộc đời. Điều kỳ lạ nhất, tình yêu, đỉnh cao nhất của tình cảm, như dấu vân tay nói lên sự sống, vậy mà trong nó lại chứa bão tố. Tình yêu có tính hai mặt. Triết học đã khái quát, lịch sử đã chứng minh. Nhưng không chứng minh được trái tim người đang yêu sẽ đập những nhịp như thế nào. Nhưng nếu biết được, còn gì chán hơn thế nữa, hỡi con người? Có thể dự báo tai họa thiên nhiên để chống đỡ. Dự báo sóng gió trong tình yêu để không dám bước tiếp, còn gì buồn hơn nữa không? Tình yêu hay, đẹp nhờ có trái tim mù lòa, sóng gió của tình yêu như một dấu ấn chứng nhận tình yêu.

Chao ôi, có khi ta cần nước mắt biết chừng nào, đâu chỉ nụ cười. Quê hương của thơ nằm cheo leo trên giọt nước mắt và nụ cười. Nhưng hình như nụ cười hơn hớn thì giết chết thơ. Chỉ có nước mắt đớn đau, thơ mới cần có mặt, vỗ về, xoa dịu các vết thương, làm lành các vết sẹo. Thơ cùng tần số với nỗi đau, do đó ai cùng tần số lập tức cộng hưởng. Sự cộng hưởng ấy đã sinh ra thơ. Nếu điều tôi nghĩ là đúng, thơ Minh Nguyệt đã giúp tôi chứng minh điều đó. Nước mắt chị cũng đã nhiều lần tuôn chảy trước nỗi đau, mất người tình. Nước mắt có thể so sánh với mưa:

Tháng năm chợt nắng chợt mưa

Hình như nước mắt vẫn chưa đủ buồn

(Tháng năm)

Những mảnh vỡ của cuộc tình găm vào trái tim thi nhân, trái tim phụ nữ nhạy cảm hơn nên cũng đau đớn hơn. Nỗi đau ở người đàn ông cũng đồng hành với cuộc đời họ nhưng sức chịu đựng của họ tốt hơn.

Lục Du, vì sao sáng nhất trên bầu trời thơ Tống cũng đã từng thốt lên trước mối tình ngang trái với nàng Đường Uyển, khi ông đã 75 tuổi đi qua vườn Thẩm:

Thấm thoắt đã 40 năm qua… thân này, mai sau trở thành nắm xương tàn vùi dưới núi Cối Kê, lòng vẫn thương nhớ người xưa.

Người dám cướp cha Ran trên tay Chúa kia, giờ đang phải gánh chịu nỗi buồn một mình:

Bao nhiêu giọt bấy nhiêu buồn

Bão xa đã tạnh bão gần… cho em

Hay: Những ngày tháng trôi qua

  Gió rét lòng tê tái

   (Mưa lòng, viết cho anh)

Người thơ vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ tưởng đủ năng lượng bất chấp tất cả, bây giờ đã thốt lên:

Tình yêu là kẻ dở hơi

Làm cho ai phải chơi vơi cả ngày

 (Tình yêu)

Tôi thích “Kẻ dở hơi”, rất Minh Nguyệt, rất AQ!

Dường như sóng gió đã yên. Cơn bão đã tan. Những hàng cây đã thắm lại, những đổ nát đã được dọn dẹp. Minh Nguyệt cũng đang tươi lại. Chị biết chấp nhận thực tế. Chị làm thơ cho con, thơ tặng chồng. Ở đâu, lúc nào chị cũng rất tha thiết tràn ngập lòng yêu. Minh Nguyệt nói với con gần gũi, giản dị như một người mẹ nông thôn xưa:

Mai này con sẽ lấy chồng

Cũng như mẹ, phải lo trong tính ngoài

(Tình yêu của bố)

Viết cho chồng, kỷ niệm sống động, cuồn cuộn chảy. Chị “thèm đến rạo rực người hơi ấm của riêng anh”

Và cơn gió đến nao lòng đi có biết

Một vùng trời rất ấm ở trong tim

Thơ Minh Nguyệt như cái gạch nối giữa hình thức cũ – mới. Có khi chị viết hiện đại, có khi dân dã như lời nói hàng ngày. Chị không cầu kỳ thể loại. Thơ tự nó sinh ra thể loại chứ không phải thể loại sinh ra thơ. Nếu thể loại sinh ra thơ, thơ đã bị nhốt trong lồng. Thơ không bao giờ bị nhốt. Thơ là cây thông của Nguyễn Công Trứ, là đôi chim nhạn của Tản Đà. Thơ luôn nằm ở vương quốc tự do. Thơ đã bắt Minh Nguyệt thể hiện theo chỉ dẫn cộng hưởng giữa cuộc đời và trái tim. Người làm thơ luôn cầm chìa khóa và trao cho bạn đọc. Mốt số thơ trẻ đã trao chìa khóa, nhưng người đọc không thể mở được. Mai sau tôi không biết, nhưng từ nay trở về trước thơ Việt Nam luôn luôn là tiếng hát giản dị của con người. Ngang tàng Cao Bá Quát hay Nguyễn Công Trứ, mềm yếu Nguyễn Du, cao sang Nguyễn Trãi, bình dân Nguyễn Đình Chiểu… đâu cũng giản dị. Các bạn cầu kỳ ơi! có phải vậy không?

Thơ Minh Nguyệt có gì chán không? Nhiều lắm! Xuân Diệu nói thơ là “chân chân chân, thật thật thật”.

Thơ là rượu cất lên từ cái đẹp của đời sống. Thơ là tiếng hót không kìm được của chim họa mi khi trăng lên. Thơ là tiếng đàn violon cao vút mà gần gũi con người. Thơ là dải lụa nhiều màu làm mát mắt con người. Do vậy ở nơi nào chị viết quá thật thì ở đó thơ bị bóp chết:

Anh và em

Hai đứa cùng

Lãng mạn

Ngay cả bài “khoảng cách” bỏ đi 3 khổ sau thì sang trọng lắm. Có khi chị vụng về như một cô gái không biết lựa chọn, trong khi quá nhiều quần áo, son phấn. Chọn lọc là một yêu cầu hiện nay với Minh Nguyệt. Đổi mới thơ là đổi mới trong cảm nhận để nhận được cuộc sống vận động ngày càng nhanh hơn, chứ không phải chỉ hình thức. Nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa đang tiến về kinh tế tri thức. Xu hướng kinh tế không biên giới, văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ngày càng thể hiện trong thực tế. Một xã hội mà bất kỳ ai đều bị lạc hậu. Một thế hệ độc giả mới và một thế hệ nhà thơ mới sẽ xuất hiện. Nhưng ít có mặt những người hôm nay còn nhầm tưởng “cách mạng hình thức”. Tôi đã nói, hình thức thơ tự thơ mách bảo.

Tôi biết Minh Nguyệt đang rất phân vân muốn đổi mới mình, đã chán cái mặt mình lắm rồi! Đó là một dấu hiệu tốt. Nó chỉ thật sự tốt khi giữ được cảm xúc mạnh mẽ, một tình yêu lớn, sống hết mình, hy sinh hết mình… để rồi ta thấy được nghịch lý: trong đời người, có khi tổng các số âm lại là số dương, tổng các số dương lại là số âm!

Đục trần để thoát, Minh Nguyệt ơi! Trên đầu, địa hạt thơ vẫn còn xa xanh vời vợi.

Báo Người Hà Nội số 7/2008

“Hóa đá” cho tình yêu vĩnh cửu   

Hóa Đá

 

 

Giữa chiều ngồi lặng thẩn thơ

Tim buồn hoá đá, hững hờ tháng năm

Thì thôi, kệ ánh trăng rằm

Thì thôi, một cuộc chơi lầm người chơi

 

Thì thôi, hoá đá sao trời

Thì thôi, hoá đá nụ cười, niềm đau

Thì thôi, hoá đá mưa ngâu

Thì thôi, thanh thản một câu tạ từ

 

Vũ Thị Minh Nguyệt

 

         Tác giả Vũ Thị Minh Nguyệt có khá nhiều bài thơ hay viết về tình yêu. Chị viết về tình yêu với nhiều cung bậc khác nhau. Bài thơ “Hoá Đá”, giống như một  cung trầm đầy đau khổ, dằn vặt, day dứt về một mối tình.

          Tình yêu – ngọt ngào, cay đắng, hạnh phúc và  khổ đau. Đích đến của tình yêu là hạnh phúc. Ai cũng mong tình yêu thăng hoa ngọt ngào, ngập tràn hạnh phúc. Song, điều đó không dễ dàng, bởi không ít người đã phải đi trên con đường tình yêu, ngổn ngang đỗ vỡ, và tận cùng nỗi đau.

 

            Khi sự đau khổ đã lên đến tột đỉnh, mọi cảm xúc dường như chết lặng. Hình tượng “hoá đá” trong bài thơ, là cách diễn tả  thật  hay, gây xúc động  ngay từ những câu thơ đầu:

“Giữa chiều ngồi lặng thẩn ngơ

Tim buồn hoá đá, hững hờ tháng năm”

           Niềm đau đóng băng, trái tim hoá đá, không còn nữa khái niệm về không gian, về thời gian. Những lúc như thế, người ta dường như muốn buông xuôi, phó mặc cho số phận, chấp nhận tình yêu lỡ làng, như là một nhầm lẫn cay đắng ở đời:

“Thì thôi, kệ ánh trăng rằm

Thì thôi, một cuộc chơi lầm người chơi” 

           Tác giả dùng từ “thì thôi..” lặp lại nhiều lần, càng làm nỗi đau thêm khắc khoải. “Thì thôi…”, như là cam chịu,  như là an ủi…cho vơi nhẹ cõi lòng. Nhưng, mỗi lần nhủ lòng, niềm đau lại như nhân lên. Sự mất mát quá lớn của tình yêu, hệ lụy đau khổ của sự đổ vỡ, chia ly…không chỉ “hoá đá” con người, mà dường như “hoá đá” cả vũ trụ:

“Thì thôi, hoá đá sao trời

Thì thôi, hoá đá nụ cười, niềm đau”

          Đến đây, tôi bỗng liên tưởng  đến hai câu thơ của Đỗ Trọng Khơi ,  như là lời an ủi , đành lòng  cho một mối tình tan vỡ , để rồi chấp nhận “gói ngày làm đêm”, như là chấp nhận một sự thật vô lý:

 

“Khi tình quá một gang tay

Thì nghiêng vạt áo gói ngày làm đêm”

 

(Đỗ Trọng Khơi)

 

          Trong thơ Minh Nguyệt, nỗi đau của sự đổ vỡ được đẩy lên đỉnh điểm , để rồi như thanh thản khép lại lòng mình:

“Thì thôi, hoá đá mưa ngâu

Thì thôi, thanh thản một câu tạ từ” 

          Vâng, “thì thôi” vậy, khi mà  “tim buồn hoá đá”. “Thì thôi” vậy, khi mà “ánh trăng rằm”,  “sao trời, nụ cười, niềm đau” cũng “hoá đá”. Đến cả  “mưa ngâu”, như là nước mắt, cũng “hoá đá” mất rồi…thì còn gì nữa cho một mối tình?  Còn gì nữa, khi đã nhủ lòng: “Thì thôi, thanh thản một câu tạ từ”? 

          Đọc đến câu thơ cuối, mọi chuyện tưởng như đã khép lại, nhưng không, tình yêu vẫn còn đó, như một giá trị vĩnh hằng. Hình tượng  “hoá đá”, không làm cho nỗi đau tình mất đi, mà ngược lại, nỗi đau trở lên vĩnh cửu với thời gian. “Hoá đá”là sự kết tinh, đông kết lại, để trở thành bất biến.  Điều muốn quên, đã trở thành điều luôn nhớ, vì tình yêu ấy, khổ đau ấy,  đã “hoá đá” trong lòng. Tương tự  như vậy, Thu Nguyệt cũng đã viết:

“Xa nào anh có hay đâu

Đá từ lúc ấy bắt đầu hóa em…”

 

(Thu Nguyệt)

 

 

 

          Chừng nào còn đau khổ, chừng ấy vẫn còn yêu. Tình yêu mãi còn đó, thao thức, trăn trở trong lòng mỗi người, dù đó là mối tình ngọt ngào, hay cay đắng. Phải chăng đây là ý nghĩa hàm xúc, sâu xa của bài thơ.

 

                   

 

          Nếu nói thơ ca giống như một bản nhạc, thì bài thơ “Hoá đá” là một bản nhạc trầm buồn, với nhiều khoảng lặng , lắng đọng cảm xúc. Tôi tin rằng, mỗi người yêu thơ, sẽ tìm thấy trong bài thơ này, một chút gì đó thấp thoáng của riêng mình, như là một sự đồng cảm, sẻ chia…và đấy là sức sống thực sự của  bài thơ, là tấm lòng của tác giả dâng tặng cho cuộc đời.

 

 

 

Việt An

Email : viet_an_06@yahoo.com

 

 

Mùa Thu vàng – dịch và cảm nhận…

Cảm nhận về mùa thu bao giờ cũng mang lại cho người ta sự mát dịu trong tâm hồn. Ai đã một lần ngắm mùa thu Nga lại càng thấy man mác và mê say.

Hai nhăm năm trước đây khi còn là một cô bé ngồi trên chiếc xe khách từ sân bay Quốc tế Mockva về ngoại vi thành phố, tôi như được lạc vào thế giới thần tiên. Những hàng phong đỏ rực, những cánh rừng bạch dương, khẳng khiu thân trắng…

Đường phố rộng sạch tinh và những chiếc lá vàng rơi lao xao.

Đó là cái cảm nhận đầu tiên của một cô bé từ luỹ tre xanh Việt Nam với một mùa thu đầy sắc màu lộng lẫy.

Từ độ đấy mỗi bận thu về lại xôn xao nỗi nhớ, nhớ một xứ sở diệu kỳ, nơi tôi đã có những ngày tháng thời sinh viên thơ mộng nhất. Những buổi chiều mùa thu cùng người yêu nắm tay tung tăng chạy trong công viên tự nhiên, đắm say đến tận bây giờ.

 

Có lần tôi nói với đám bạn, giá mình được trở lại Nga lần nữa. Bạn tôi bảo thôi đừng quay lại, ngày xưa xa rồi, mọi thứ đều khác. Không quay lại may ra còn giữ lại những kỷ niệm đẹp…

Một đứa lại bảo dù đất nước Nga bây giờ không còn như xưa nữa nhưng có hai thứ không bao giờ thay đổi đó là “thiên nhiên Nga và gái Nga”. Cả lũ cùng cười!

Và mùa thu Nga nữa, không nơi nào đẹp như vậy. Chả thế mà có bức tranh Mùa thu vàng của Levitan quyến rũ mê hồn.

Năm cuối cùng trước khi về nước lang thang trong rừng thu nhặt lên một chiếc lá tôi đã viết bài thơ Gửi anh chiếc lá thu Nga gửi về tặng chồng mình.

Hơn hai mươi năm sau đọc lại ЗОЛОТАЯ ОСЕНЬ của Борис Пастернак cảm xúc trong tôi lại tràn trề.

Bài thơ hay quá, cả một cánh rừng Nga tĩnh lặng như một cung điện thần tiên, không một bóng người chỉ có cảnh thiên nhiên là rực rỡ diệu kỳ.

Tĩnh lặng đến mức chỉ có bước nhẹ trong rừng cũng nghe tiếng sào sạo của lá cây dưới chân ta. Hai mươi năm trôi qua tiếng Nga trong tôi đã mai một nhiều nhưng vẫn đủ để cho ta cảm nhận bài thơ bằng cả tâm hồn mình.

Mùa thu cũng là mùa hôn lễ nhưng trong cả bài thơ tác giả không cần dùng đến từ đó một lần nào. Chỉ bằng vài nét phác thảo thiên nhiên, những vòm lá như chiếc vương miện của cô dâu đội vào ngày cưới, bạch dương trong sương mờ như được phủ bằng voan… cho ta cảm nhận về một mùa uyên ương.

Cái tài của nhà thơ là thế, giá từ “hôn lễ” được cho vào chắc hỏng cả bài thơ. Vì người đọc đâu có cần cảm nhận điều gì.

Hà Nội hôm nay cũng vào thu, se lạnh. Nhớ mùa thu Nga tôi dịch bài thơ này với tất cả cảm nhận của mình để tặng cho NGÀY XƯA!

22-08-2006

 


Responses

  1. Chào Chị Trăng Quê. Hết gặp chị bên plus lại gặp bên ni.

    • Chao Anh Duong
      Lau roi chi moi vao cham tra loi mong em thong cam. Van su nhu y nhe, chi van chung thuy voi ben PLUS em a

  2. Sang đây muốn gặp chị TQ phải đăng kí trước 2 tháng, chú AD ạ.
    Đơn chị nộp được hơn 1 tháng rồi, chú thì còn khướt mới đến lượt

    • Oi oi, chi xin loi nhe. Nha nay chi chiem dat bo khong cho thoi co moi ban nen it qua lai.
      Chuc Meo Bu va Anh Duong luon vui va Hanh phuc


Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: